Microsoft mạnh nhờ biết “cóp nhặt” công nghệ

Microsofot tiếp quản aQuantive

TTO – Microsoft có bề dày lịch sử về mua lại công nghệ từ các hãng khác để làm tăng tính cạnh tranh cho sản phẩm của mình, và năm 2007 này cũng không là ngoại lệ.

Trong năm tới, người tiêu dùng sẽ được “sở thị” những thành quả từ việc hãng tiếp nhận các công nghệ mới trong năm nay.

Thời gian qua, người khổng lồ phần mềm đã thực hiện được một số hợp đồng mua bán, cả lớn và nhỏ ở nhiều lĩnh vực, từ sự muộn mằn khi tham gia hội tụ truyền thông đến lĩnh vực đang cạnh tranh khốc liệt như các giải pháp quảng cáo.

Thành quả từ những vụ “thâu tóm”

Đầu năm nay, Microsoft tiếp quản Parlano và công nghệ Mindalign của hãng này. “Mindalign” là ứng dụng chat nhóm cho các doanh nghiệp, cho phép nhiều người thực hiện các chủ đề thảo luận kiểu tin nhắn nhanh (IM). Tại thời điểm thực hiện thương vụ này, Microsoft cho biết chức năng chat nhóm của Parlano sẽ được đưa vào gói phần mềm Office Communication Server (OCS) như là một tính năng bổ sung. Do quá gần ngày trình làng, tính năng này chưa có trong các bộ phần mềm “Office Communications Server 2007” và “Office Communicator 2007”. Tính năng mới sẽ có mặt ở phiên bản OCS ra mắt vào quý I-2008.

Chỉ những khách hàng sử dụng bản OCS 2007 và Live Communications Server 2005 tiêu chuẩn có bản quyền (CAL) mới được cấp quyền sử dụng phần mềm chat nhóm dựa theo công nghệ của Parlano, ông jevon Fark, một giám đốc tiếp thị Khối hội tụ truyền thông của Microsoft nhấn mạnh.

Một phần mềm hội tụ truyền thông khác cũng gia nhập gia đình Microsoft trong năm nay là Tellme Networks. Đây là một tập hợp các giải pháp và dịch vụ trên máy di động bao gồm đàm thoại dành cho giới khách hàng doanh nghiệp. Nó cho phép khách hàng và các đối tác công nghiệp xây dựng giải pháp đàm thoại ở mức cao bao gồm cả truyền hình, tin nhắn, tìm kiếm trên di động và các ứng dụng tích hợp khác.

Công nghệ Tellme cũng chưa được tích hợp vào bản OCS 2007. Nhưng việc xúc tiến ứng dụng công nghệ này vào các sản phẩm của Microsoft vẫn đang được thực hiện. Rõ ràng, dịch vụ di động là xu thế của thị trường dịch vụ trực tuyến. Microsoft sẽ có hai sản phẩm trong thị trường này: Tận dụng công nghệ và nguồn lực của Tellme để xây dựng và duy trì đường dây nóng 1-800-Call 411; đồng thời trình làng bản Windows Live trên các máy điện thoại di động của Sprint. Hãng cũng có kế hoạch sử dụng nền tảng thoại của Tellme làm đòn bẩy cải tiến các dịch vụ Contact Center.

Các vụ chuyển nhượng đình đám khác của Microsoft trong năm 2007 là mua lại AdEcn, một hãng chuyên về các giải pháp quảng cáo; hãng ScreenTonic của Pháp chuyên quảng cáo trên máy di động; và tiếp quản aQuantive - hãng giải pháp quảng cáo và tiếp thị số toàn cầu.

Sẽ mua thêm 100 công ty

Ông Chris Swebson, Giám đốc trung tâm phân tích Công nghiệp Phần mềm của tập đoàn NPD ở NewYork nhận định, các thương vụ này sẽ giúp Microsoft cạnh tranh tốt hơn với các mạng quảng cáo của Google cũng như với nền tảng Flash của Adope.

Trong năm ngoái, Microsoft đã mua lại một số công ty nhỏ và những công nghệ của họ đã được ứng dụng trong những sản phẩm mới đây của hãng. Chẳng hạn, phần mềm của Onfolio cho phép cải tiến cách thức mọi người phát hiện, lưu và dùng lại thông tin đã được tìm kiếm trên web, tính năng này được sáp nhật vào chức năng Windows Live Toolbar; trong khi công nghệ “Alohabob” tiếp nhận của Apptimum thì được hãng đưa vào hệ điều hành Windows Vista giúp người dùng đơn giản hóa việc tải các ứng dụng về máy tính.

Giám đốc điều hành Steve Ballmer của Microsoft kỳ vọng sẽ mua được khoảng 100 công ty nữa trong vòng 5 năm tới.

HẢI THANH (theo eWeek)

Để lại phản hồi

Thêm 1 cách download tại megaupload

Thủ thuật này bạn chỉ sử dụng được bằng Firefox 2.0 trở lên

Nào bắt đầu :

Trước hết bạn vào address bar và gõ lệnh about :config
Tiếp theo bạn tìm đến dòng : general.useragent.extra.firefox

Bạn click đúp vào dòng đó

và sửa lệnh mặc định ở đó thành: Firefox/2.0 MEGAUPLOAD 1.0

Và bây giờ khi download tại mega bạn ko cần phải cài toolbar nữa

Posted by fantastic6886 on July 16th, 2007 at 4:25 am

Để lại phản hồi

Làm sao Ghost nguyên XP Pro và các ứng dụng khác có kích thước nhỏ nhất?

Ngày 10 tháng 8 năm 2007

XHTTOnline: Khi bạn cài Win XP pro và các phần mềm kèm theo nếu không có chuẩn bị và sắp xếp trước, đến lúc cần ghost backup lại để dành gặp có gì trục trặc phải restore lại, kích thước sẽ quá lớn :

Chỉ có ghost vào đĩa CD \DVD là an toàn nhất nhưng làm sao thật gọn nhẹ, chỉ vào đúng khoảng 2 đĩa CD đây? Nếu phải WinMe, Win98 là chuyện quá dễ : file gho ME, 98 trong 1 đĩa CD còn dư hàng 200MB.

Nhưng lại không phải đơn giản, nhất là khi bạn chọn dùng XP pro với quá nhiều chức năng kèm nối mạng, thì khó lòng vừa đủ 2 đĩa CD theo mong muốn.
Tuy vậy, nếu bạn biết sắp xếp thật khéo, Ghost XP backup vẫn được tối đa chỉ là 2 đĩa CD thôi. Với bản XP home bao giờ cũng gọn nhẹ và cũng dễ làm hơn nếu bạn lưu ý các giai đoạn phải làm như sau đây:

1) Đầu tiên bạn phải di chuyển My Documents tới chỗ khác, không bao giờ để trong ổ C :

Ngoài chuyện chiếm quá nhiều đất trong ổ C, còn bị mất tư liệu quí mới vừa save (lưu lại) xong; một khi bạn quên đi lúc ghost restore lại cái cũ: Do đó ghost cũ sẽ đè lên các file doc bạn mới vừa làm gây mất dữ liệu.

Bạn nên click nút phải vào My Documents, chọn move (di chuyển) đến nơi khác như ở ổ E, F.. tuỳ ý mình.

2) Di chuyển sớm các thư mục lưu trữ mail (thư) của Microsoft Outlook hoặc Outlook Express để khỏi bị mất thư mới một khi quên làm restore ghost cái cũ lại.
Bạn cứ vào trong Microsoft Outlook Tools/Options/ Autoarchive chọn Browse để di chuyển sang nơi khác E, F…

Trong Outlook Express, phải vào Tools/Options/ Maintenance/ Store Folders cũng để di chuyển thư mục thư sang nơi khác.

3) Bạn chỉ nên cài ở ổ C riêng 2 phần mềm là Office 2003 và Norton Antivirus 2007 thôi dù có chiếm khá lớn.

Riêng các softwares khổng lỗ khác, dùng ghi đĩa như Easy CD/DVD platinum 90 , WinonCD 6.03, Nero 7951 .. bạn nên để cài ở ổ khác như E, F chứ không nên để chung trong C: chúng sẽ chiếm quá nhiều chỗ.

Webshot30 chứa nhiều thư mục có file hình ảnh quá lớn, bạn cũng nên cài nó ngoài ổ C .

Một vài chương trình: Teleport 147, Super cleaner37 , Registry Cleaner43 ..bạn có thể dùng một shortcut từ trong Me, 2000, vẫn xài được tốt trong WinXP .

4) Muốn cho WinXP thật gọn nhẹ, bắt buộc bạn phải biết những file, thư mục nào không cần thiết trong Windows, nên xoá bớt để cho đĩa cứng rộng thêm.

Bài này sẽ điểm qua một số file, thư mục rõ ràng là vô bổ, bạn có thể xoá đi bớt mà không sao cả. Các file lưu tạm như temporary download, bak.. bạn có thể dùng Disk cleanup của Windows hoặc những chương trình xoá nhanh và tiện lợi cho các file tạm là Emptemp 2.84, Super Cleaner 3.7, Windows Washer 6.05 (xoá nhanh và tiện nhất).

5) WinXP giống như WinMe đều có một tiện ích System restore phục hồi hệ thống bạn khi gặp trục trặc. Có bạn cho là cần, tôi thì ngược lại: nên bỏ ( disable) System restore cũng chả sao cả. Bạn đỡ tốn cả trên hơn cả trăm MB nhằm để dành cho bản ghost XP vào CD thật gọn nhẹ.

Hai tiện ích khác cứu hộ khá tốt, ngoài Ghost mỗi khi máy gặp quờ quạng, đứng máy, chỉ thấy có WinRescue 10834 ( có 5 bản cho từng Windows ) và phần System saver nằm trong System Suite 7.1 là quá đủ. Chỉ cần khoảng 5 MB, là Winrescue sao lưu registry của mọi windows giúp bạn phục hồi registry cũ rất hiệu quả.


Tôi vọc máy cũng quá nhiều nên gặp tai biến không ít, phải nói là đủ loại. Một thời tôi cũng đã tin vào Last good configuration của Windows 2000 và Xp ( nhấn F8 khi khởi động để phục hồi ). Sau mới thấy những chuyện đơn giản, nó còn làm chả gì được như lúc khởi động: đột nhiên biến đi chức năng auto protect của Norton Antivirus 2007, modem tự nhiên không kết nối được.

Với WinRescue và System saver của System Suite 71 đấy chỉ là chuyện nhỏ, trong tích tắc một khi restore, boot máy lại là autoprotect, modem trở về tốt lại ngay.
Hơn nữa, bạn có Ghost 11.01 đã sao lưu toàn bộ windows, khi cần phục hồi lại cực nhanh ( 4 phút thay vì 7 phút trước đây ), việc giữ lại System restore để làm gì phí phạm: chỉ tổ chật thêm ổ cứng của bạn ?

6 ) Bạn nên disable (vô hiệu hóa) luôn phần Hibernate trong WinXp cũng chiếm tương tự cả trăm MB. Vào Display Properties, Screensaver, Power, bỏ chọn nút Enable Hibernate (giúp khởi dộng lại khá nhanh nhưng lại chiếm quá nhiều đất trong ổ cứng).
.
7) Bạn có thể di chuyển thư mục driver cache trong thư mục Windows (Xp ) ra nơi khác như ổ là E, F và cũng phải sửa lại đường dẫn trong registry Windows (HKEY_LOCAL_MACHINE\ Softwares\ Microsoft\Windows\ Current Version\ Setup) để nó biết nơi tìm đến khi cần đến.

8) Đặc biệt 2 thư mục nằm trong System 32 của Win Xp, bạn có thể xoá chúng mà không sao cả: chiếm gần 300-400MB là dllcache và Reinstall backup.

Trong bản XP home, bạn có thể có thể gặp báo lỗi khi xoá xong thư mục dllcache( hidden ) nhưng nó chép một vài file lại không đầy 10MB. Nếu bạn vẫn còn sợ trục trặc sau này, có thể chép vào 1 nơi khác và nén lại để dành đó khi cần thiết.

Tôi đã thử xoá dllcache, đỡ hơn 300MB lúc đầu cũng hơi ngán nhưng sau không thấy gì. Hai bản WinXp vẫn chạy tốt thôi suốt cả 2 tháng nay.

9) Một vài thư mục nếu bạn không thích, cũng nên xoá bớt như Tour guide của WinMe, WinXp nằm trong thư mục Windows\help\tours, cũng đỡ thêm vài chục MB .

10) Bạn cũng có thể xoá không chính quy từ Me, 2000, các thư mục không thích nằm trong WinXp như Net meeting, Movie maker, Windows messenger.. Trò chơi Pinball ( Program files\Windows NT\Pinball ), một số file Media quá nhiều trong thư mục Windows\Media.

11) Bạn nên xoá những gì có trong thư mục Prefetch của Windows XP hàng tháng, đỡ được cả chục MB nữa và XP cũng tạo ra cái khác lại sau đó.
Xoá contents thư mục này tháng một lần cũng không sao cả để tránh các link trong windows quá nhiều sẽ không còn đúng nữa .

12) Khi xài Xp cần vào System Properties\ Advanced\Start up and Recovery, đến phần Write Debbugging Information, bạn nên chọn là none. Nếu không làm vậy, khi máy gặp trục trặc, WinXp sẽ lưu một file memory. dmp đôi lúc đến cả trăm MB vô bổ trong Windows mà chính bạn cũng không ngờ đến.

13) Một khi cài Windows Media player 10, 11 vào Windows, bạn nên xoá phần nguyên install trong thư mục install có lưu giữ để dành file cài đặt chiếm đến 8MB . Bạn sẽ còn độ hơn 3MB cho cài Windows Media Player, t hay vì hơn 10MB nếu bạn không biết xoá bớt.

Riêng Win 2000, bạn cũng nên vào All User / Application data / Dr Watson/ xoá file hay tạo ra không dùng là user.dmp có khi lên đến vài chục hay cả trăm MB là chuyện thường khiến kích thước Win2000 phình ra phi lý khi cần sao lưu.

14) Khi bạn cài đặt bất cứ Driver update Nvidia nào mới , bạn nên nhớ bao giờ trong Windows XP sẽ phình ra đến thêm 40MB . Đó là các thư mục Last Good temp và System32 / Reinstalbackup. Bạn có thể xoá thư mục ấy với điều kiện phải ghost sao lưu XP trtước, để đỡ được trong ổ cứng khoảng 40MB .

Bs.Dương Minh Hoàng

Để lại phản hồi

7 lời khuyên từ những nhà lãnh đạo hàng đầu


1. Lãnh đạo chính là biến điều gì đó thành hiện thực

 

Nếu bạn muốn biến điều gì đó thành hiện thực trong cuộc sống của bạn thì đừng ngần ngại thực hiện. Các rào cản nhận thức có thể xói mòn niềm đam mê cháy bỏng. Lời khuyên của John Baldoni, sáng lập viên hãng tư vấn Baldoni Consulting LLC.

 

2. Lắng nghe, hiểu rõ và dẫn dắt

 

Rất nhiều lần, tất cả chúng ta đều được nghe: “Chúa tạo ra cho chúng ta hai chiếc tai và một cái miệng vì một lý do…” hay như Stephen Covey đã từng nói: “… để tìm kiếm thay vì để đón nhận sự hiểu biết”.

 

Là một nhà lãnh đạo, đầu tiên bạn phải lắng nghe để hiểu rõ vấn đề, sau đó mới bắt đầu dẫn dắt và đào tạo nhân viên. Đây là lời khuyên giá trị nhất của Cordia Harrington, Chủ tịch kiêm CEO của hãng Tennessee Bun.

 

3. Trả lời ba câu hỏi chung của mọi nhân viên

 

Những gì các nhân viên trong công ty đều muốn có từ nhà lãnh đạo của mình là các câu trả lời cho ba câu hỏi sau: Chúng ta sẽ đi về đâu? Chúng ta sẽ đến đó như thế nào? Vai trò của tôi là gì? Kevin Nolan, chủ tịch kiêm CEO của tập đoàn y tế Affinity Health Systems, tin rằng câu trả lời cho ba câu hỏi trên càng rõ ràng bao nhiêu, kết quả càng tốt đẹp bấy nhiêu.

 

4. Làm chủ mục tiêu sẽ tạo cơ hội cho bạn làm việc ở bất cứ đâu trong thế giới kinh doanh năng động ngày nay

 

Debbe Kennedy – chủ tịch, CEO và sáng lập viên của Trung tâm Global Dialogue cùng nhiều công ty giải pháp lãnh đạo khác – đã từng chia sẻ lời khuyên này như một phần thiết yếu trong việc định hình nên phương hướng hoạt động, tương lai và sự nghiệp của bà.

 

Bà nói: Hãy làm chủ những kỹ năng cho phép bản thân làm việc ở bất cứ đâu. 4 kỹ năng đó là:

 

- Khả năng xây dựng một ý tưởng;

 

- Hoạch định hiệu quả để thực thi thành công;

 

- Làm việc không thua bất cứ ai;

 

- Đạt được các kết quả tuyệt vời hết lần này đến lần khác.

 

5. Hiếu kỳ

 

Sự hiếu kỳ là điều kiện tiên quyết để tiếp tục cải thiện và thậm chí vượt trội. Trong kinh doanh, tính hiếu kỳ về mặt trí tuệ là vô cùng cần thiết. Hãy hiếu kỳ trí tuệ về tương lai của công ty, từ đó có những bước đi sáng tạo nhằm động viên mọi người đến gần hơn với viễn cảnh chung.

 

6. Lắng nghe cả hai mặt của cuộc tranh luận

 

Hãy lắng nghe tất cả các khía cạnh khác nhau của cuộc tranh luận trong các ý kiến và của mọi người. Việc chỉ lắng nghe những ai có cùng kiến thức và suy nghĩ như bạn có thể là một khinh suất lớn. Sự tôn trọng quyền của một ai đó đối với quan điểm của họ là vô cùng thiết yếu.

 

Lắng nghe và nói chuyện với nhiều người khác nhau, từ các giáo sư cho đến nhân viên cảnh sát, từ ngài thị trưởng cho đến các học sinh trung học không chỉ quan trọng để trở thành một nhà lãnh đạo tốt trong kinh doanh mà còn trở trành một thành viên giá trị trong cộng đồng của bạn.

 

7. Chuẩn bị, chuẩn bị và chuẩn bị

 

Thất bại trong sự chuẩn bị đồng nghĩa với chuẩn bị để thất bại. Nếu bạn chuẩn bị thật sự kỹ lưỡng và nếu còn có điều gì đó sai sót, thì sức mạnh còn lại của những gì bạn đã chuẩn bị sẽ giúp mọi thứ trở nên dễ dàng hơn. Không có khủng hoảng hay sợ hãi nào nảy sinh cả.

 

Một trong những lời khuyên tốt nhất mà Dave Hixson, huấn luyện viên bóng rổ nam trường đại học Amherst, Mỹ từng nhận được và tiếp tục sử dụng, đó là câu châm ngôn vô danh: “Sự chuẩn bị là khoa học của chiến thắng”.

 

Những lời khuyên tuyệt vời luôn đến từ nhiều nguồn khác nhau – cha mẹ, họ hàng, nhà tư vấn, sếp, đồng nghiệp, thầy cô giáo và cả bạn bè. Điều quan trọng nhất là bạn luôn cởi mở tấm lòng, lắng nghe mọi người, đồng thời không ngừng phát triển phong cách lãnh đạo của mình. 

 

Theo Trần Phương Minh
Bwportal/Leader Values

Để lại phản hồi

Lịch sử “tiến hóa” của Windows


Windows 1.0

Ra mắt vào ngày 20 tháng 11 năm 1985, Windows 1.0 là hệ điều hành có giao diện đồ hoạ đầu tiên của Bill Gates và  đồng nghiệp, và chạy trên nền 16 bit. Mặc dù có khả năng thực hiện nhiều tác vụ cùng lúc, hơn hẳn MS-DOS vốn cực kì phổ biến trước đó, Windows 1.0 bị cạnh tranh gay gắt bởi sản phẩm cùng loại của các công ty đối thủ như IBM, và do đó chỉ chiếm được thị phần rất nhỏ.

 

Windows 2.0

Cải tiến đáng kể nhất của Windows 2.0, ra mắt 23/11/1985, về mặt đồ hoạ là cho phép các cửa sổ nằm chồng lên nhau, thay vì chỉ đặt cạnh nhau như Windows 1.0. Đồng thời, đây cũng là phiên bản đầu tiên có các nút “maximize” và “minimize” trên thanh tác vụ, cũng như xuất hiện phím Alt trên bàn phím. Mặc dù vậy, các hãng phần mềm hỗ trợ Windows vẫn rất hạn chế, và thị phần của Windows 2.0 cũng chỉ lớn hơn chút ít so với phiên bản 1.0

 

Windows 3.0

Chào đời ngày 22/5/1990, Windows 3.0 là thành công lớn đầu tiên của HDH Windows, và là đối thủ lớn nhất của Macintosh của Apple, cũng như Commodore Amiga – một hệ điều hành nổi tiếng vào thời điểm đó. Thành công của Windows 3.0, cũng như phiên bản 3.1 tiếp sau đến từ cơ chế quản lý bộ nhớ tiên tiến và tích hợp thành công với MS-DOS. 

 

Windows NT

Phát hành rộng rãi vào tháng 6/1993, Windows NT là hệ điều hành thuần 32 bit “cao cấp” hơn Windows thông thường, vốn dựa trên nền tảng DOS và chạy cả 16/32 bit. Trải qua nhiều phiên bản từ NT 3.1, 3.5, 4.0, Windows NT chính thức ngừng phát triển với phiên bản ra mắt năm 1996 để nhường chỗ cho các phiên bản Windows mới hơn cũng trên nền NT.

Windows 95

Ra mắt ngày 24/8/1995, Windows 95 là thành công rực rỡ của Microsoft. Cải tiến nổi bật nhất so với Windows 3.1 là giao diện đồ hoạ cách mạng – vẫn được sử dụng cho đến ngày nay, và dựa trên trên nền tảng MS-DOS 7.0, một phiên bản DOS cải tiến. Những cải tiến đáng giá khác bao gồm hệ thống tên dài 255 kí tự, và trình duyệt web phổ biến nhất hiện nay: Internet Explorer.

 

Lịch sử “tiến hóa” của Windows (Kỳ II)

Windows 98

Tiếp nối thành công của Windows 95, Windows 98 bổ sung khả năng tương thích với nhiều hệ thống phần cứng khác nhau.

 

Windows ME

Windows ME bị chỉ trích khá nhiều, do sự kết hợp “nửa mùa” giữa một hệ điều hành dựa trên DOS và cơ chế load không sử dụng DOS, khiến nhiều phần mềm cũ không hoạt động được trên ME. HĐH có tuổi thọ khá ngắn ngủi, chỉ kéo dài một năm trước khi Windows XP ra mắt. Mặc dù vậy, phiên bản Windows này giới thiệu khá nhiều tính năng mới mà Windows XP sau này sẽ sử dụng, ví dụ như System Restore.

 

Windows 2000

Là hệ điều hành thiết kế cho doanh nghiệp, Windows 2000 thuộc dòng Windows NT và hoạt động ổn định trên cả máy tính để bàn lẫn máy chủ. Đây cũng là phiên bản đầu tiên chính thức sử dụng định dạng đĩa cứng NTFS và mã hoá dữ liệu cấp thấp. Windows 2000 được thay thế bởi Windows server 2003 sau này.

 

Windows XP

Windows XP là hệ điều hành phổ thông đầu tiên đoạn tuyệt hoàn toàn với DOS lỗi thời, nâng cao đáng kể độ ổn định và bảo mật cho người sử dụng. HĐH này cũng giới thiệu giao diện đồ hoạ cải tiến, bắt mắt hơn nhiều so với các phiên bản trước. Windows XP ra mắt vào 25/10/2001, và có nhiều phiên bản, nhiều mức giá khác nhau cho các đối tượng khác nhau.

 

Các phiên bản khác của Windows XP gồm có Windows XP 64 bit cho các vi xử lý 64 bit, Media Center cho giải trí số, Tablet PC cho máy tính bảng và vài phiên bản khác.

 

Windows Vista

Ra mắt tháng 1/2007, Windows Vista là hệ điều hành mới nhất của Microsoft cho đến thời điểm hiện tại. 5 năm phát triển kể từ XP, Vista gây ấn tượng mạnh cho người dùng với giao diện đồ hoạ bóng bẩy bắt mắt, khả năng tìm kiếm nâng cao, và còn nhiều tính năng khác chờ người dùng khám phá. Vista cũng được quảng cáo là hệ điều hành ổn định, bảo mật nhất từ trước đến nay. Tuy nhiên, cái giá phải trả cho việc sử dụng Vista là cấu hình máy yêu cầu rất cao, cũng như hỗ trợ phần cứng cũ hạn chế.

 

Windows trong tương lai

Phiên bản Windows 7 vẫn đang trong giai đoạn phát triển ban đầu. Chưa có nhiều thông tin về HĐH này, ngoại trừ việc thời gian ra mắt được dự kiến năm 2009.

 

Hoàng Hải

 

 

Phản hồi (1)

‘Biết bay’ không còn là viễn tưởng

 

Bay được là có thể về lý thuyết, nhưng chỉ với các vật nhỏ trong môi trường chân không, các nhà vật lý cho biết. Ảnh: iStockphoto.

Làm cho các vật siêu nhỏ bay lên được là hoàn toàn có thể, bằng cách đảo chiều một hiện tượng quen thuộc, các nhà vật lý tuyên bố.

Các nhà vật lý lý thuyết Anh cho biết họ có thể tạo ra “hiệu ứng bay lên khó tin” bằng cách lợi dụng lực Casimir.

Thông thường, lực này khiến cho các vật thể dính vào nhau ở cấp độ lượng tử. Nhưng khi đảo chiều nó lại khiến các vật đẩy nhau ra.

Hiện tượng này có thể được lợi dụng để cải tiến tính năng của các thiết bị cá nhân như túi khí trong xe hơi hay các chip máy tính, giáo sư Ulf Leonhardt và tiến sĩ Thomas Philbin từ Đại học St Andrews cho biết.

Lực Casimir, được phát hiện năm 1948 nhưng mãi đến năm 1997 mới đo được chính xác. Một ví dụ của loại lực này là tắc kè với khả năng bám dính vào tường chỉ bằng một ngón chân.

Tuy nhiên trong công nghệ nano, lực bám dính này lại có thể là một trở ngại. “Lực Casimir là nguyên nhân chủ yếu gây ra ma sát ở cấp độ nano (phần tỷ mét), đặc biệt là trong vài hệ thống điện cơ kích cỡ micromét”, Leonhardt nói.

“Các máy móc kích cỡ nano hoặc micro mét có thể chạy êm hơn khi ma sát bằng không hoặc rất nhỏ nếu người ta có thể điều khiển được lực đó”, ông nói.

“Để giảm được ma sát trong công nghệ nano, việc biến lực dính của tự nhiên thành lực đẩy có thể là giải pháp tối ưu. Thay vì dính vào nhau, các phần của máy móc tí hon sẽ bay lên”.

Làm thế nào?

Mặc dù các nhà vật lý không chứng minh được hiện tượng bay lên, song họ cho biết đã tìm ra cách để làm điều đó.

Theo tính toán của họ, một thấu kính “hoàn hảo” có chỉ số khúc xạ âm đặt giữa hai bề mặt có thể khiến các bề mặt này đẩy nhau.

Thấu kính “hoàn hảo” có thể hội tụ một hình ảnh với độ phân giải không bị giới hạn bởi bước sóng ánh sáng. Mặt khác, thấu kính có chỉ số khúc xạ âm sẽ bẻ cong ánh sáng theo hướng ngược lại với vật liệu thông thường. Kết hợp hai đặc tính này sẽ làm thay đổi trường điện từ xung quanh hai bề mặt, tạo ra một lực đẩy đủ mạnh để nhấc một chiếc gương có độ dày 500 nanomét.

Leonhardt nhấn mạnh rằng lực nâng này sẽ chỉ ứng dụng được với các vật thể tí hon, mặc dù về nguyên tắc một ngày nào đó nó có thể dùng để nâng con người, song ngày đó sẽ còn rất xa.

“Còn hiện tại, câu chuyện về người biết bay vẫn chỉ là đề tài của các phim hoạt hình, các câu chuyện thần tiên hoặc huyền bí”, ông nói.

T. An (theo AFP, ABConline)

Để lại phản hồi

Lược sử Thung lũng Silicon


14:10:25 03/08/2007

Sự hình thành và phát triển của Thung lũng Silicon gắn liền với một trường đại học, một giáo sư điện tử, một công ty “start-up”, một nhà vật lý nhận Giải Nobel, tám “kẻ phản bội”, nhiều tài năng trẻ, nhiều ý tưởng thông minh, nhiều nguồn vốn đầu tư mạo hiểm, và cả những cuộc chiến cạnh tranh ngày càng quyết liệt trên thị trường công nghệ cao thế giới.

Những người khai sinh thung lũng
“Thung lũng Silicon” là cái tên mà báo chí đã đặt cho Thung lũng Santa Clara từ những năm 1970. Thực ra, Santa Clara chỉ là một “bán” thung lũng, phía tây được bao bọc bởi rừng và các dãy đồi, còn phía đông là Vịnh San Francisco. Năm mươi năm về trước, đây vốn là một nơi yên tĩnh, vắng vẻ, với nhiều vườn cây ăn quả, chỉ mới có duy nhất một trung tâm lớn là Đại học Stanford.
Công nghệ điện tử sơ khai đã xuất hiện ở Santa Clara từ cuối thế kỷ 19, mặc dù quy mô của nó còn khiêm tốn. Năm 1890, công ty điện báo liên bang đã được thành lập ở Palo Alto, một thành phố nằm ở khu vực Vịnh San Francisco. Cũng vào thời gian đó, tại thành phố San Jose nằm trong thung lũng, người ta đã lần đầu tiên thực hiện được sự truyền sóng radio liên tục. Công nghệ khuếch đại bằng đèn chân không khi đó đã cho phép sự truyền tín hiệu đàm thoại qua khoảng cách từ bờ phía đông sang bờ phía tây của vịnh.

David Packard, Frederick Terman và William Hewlett, thập kỷ 1970 (từ trái sang phải)

Frederick Terman có thể được coi là cha đẻ của Thung lũng Silicon. Vốn là con trai của một giáo sư ở Stanford, Frederick nhận được học vị phó tiến sỹ kỹ thuật điện ở MIT và cũng trở thành một giáo sư về điện tử ở Đại học Stanford. Cuốn Bài giảng về kỹ thuật vô tuyến của Terman đã cuốn hút được rất nhiều sinh viên tài năng, trong số đó có David Packard và Bill Hewlett. Năm 1938, với sự khuyến khích của Terman, Packard và Hewlett đã phát triển thành công một loại mạch dao động mới. Một năm sau đó, với số vốn ban đầu 538 USD, hai người này đã thành lập nên công ty “start-up” công nghệ cao đầu tiên. Hiện nay, HP (Hewlett-Packard) được biết đến như một công ty lừng danh thế giới.
Vào thập kỷ 1950, Terman đã mang về Santa Clara nhà vật lý William Shockley cùng với công nghệ bán dẫn Silicon. Trước đó, vào năm 1947, tại Bell Lab, Shockley cùng với hai đồng nghiệp là Bardeen và Brittain đã chế tạo thành công chiếc transitor bán dẫn đầu tiên. Ba người được nhận Giải Nobel vào năm 1956. Sự ra đời của transitor đã đánh dấu sự chuyển mình vĩ đại của công nghệ điện tử. Có cùng các chức năng nhưng transitor ưu việt hơn rất nhiều so với đèn chân không, nó nhỏ hơn, ít tỏa nhiệt hơn, ổn định hơn và phản ứng nhanh hơn.

“Tám kẻ phản bội”

Nhóm “Tám kẻ Phản bội” ở tập đoàn Fairchild

Năm 1956, Shockley thành lập cơ sở riêng của ông ở Palo Alto mang tên “Phòng thí nghiệm Bán dẫn Shockley” để sản xuất transitor và các link kiện bán dẫn khác. Shockley là một nhà khoa học cực kỳ thông minh nhưng lại là một nhà quản lý tồi. Sau một năm điều hành nhà máy, tám nhân viên hàng đầu của Shockley đã dời bỏ ông. Shockley đã tức giận gọi họ là “tám kẻ phản bội.” Tám người đó là Sheldon Roberts, Eugene Kleiner, Jean Hoerni, Gordon Moore, Jay Last, Victor Grenich, Julius Blank, và Robert Noyce. Họ có một ý tưởng về cái gọi là “transitor silicon khuếch tán kép” nhưng Shockley nghĩ là quá viển vông nên đã từ chối không cho họ tiếp tục nghiên cứu về nó.
“Tám kẻ phản bội” bỏ đi, tìm đến sự giúp đỡ của một ngân hàng đầu tư ở New York. Người của ngân hàng này đã giới thiệu họ với Sherman Fairchild, chủ một nhà máy thiết bị quân sự ở Long Island. Vốn là một kỹ sư nên Fairchild cũng phần nào hiểu được ý tưởng của nhóm tám người, ông đã giúp cho họ một khoản vay 1,5 triệu USD. Và kết quả là, năm 1957, tại thành phố Mountain View (gần Palo Alto), Tập đoàn Bán dẫn Fairchild được thành lập nhằm khai thác ý tưởng công nghệ của “tám kẻ phản bội.” Khái niệm về “transitor silicon khuếch tán kép” đã đạt được sự chấp thuận của không lực Hoa Kỳ. Điều đó đã khích lệ nhóm tám người vượt qua được những khó khăn kỹ thuật để chế tạo thành công loại transitor mới. Và chỉ sau một năm rưỡi, loại transitor này đã trở thành một sản phẩm độc quyền của Tập đoàn Fairchild.

Từ IC đến PC

Công viên Nghiên cứu Stanford (Stanford Research Park)

Năm 1958 là năm đánh dấu bước chuyển mình thứ hai của công nghệ điện tử. Chiếc mạch tổ hợp (IC) được phát triển bởi Robert Noyce (một trong “tám kẻ phản bội”) lần đầu tiên được đưa vào sản xuất. Thành công của Noyce đã trở thành yếu tố quyết định cho sự cất cánh của Tập đoàn Bán dẫn Fairchild. Năm 1959, Sherman Fairchild đã quyết định mua lại toàn bộ tập đoàn mang tên ông. Mỗi người trong nhóm tám nhận được 250.000 USD, một khoản tiền đủ làm họ trở nên giàu có vào thời đó. Nhưng một hệ quả không hay cho Fairchild đã xảy ra, “tám kẻ phản bội” dần dần đoạn tuyệt với tập đoàn, hai người ra đi sau cùng là Noyce và Moore, vào năm 1968. Fairchild chấm dứt hoạt động. Bây giờ, thay thế cho đại bản doanh của nó ở Mountain View là toàn văn phòng của hãng Netscape.
Tháng 7 năm 1968, vẫn tại Mountain View, Noyce và Moore thành lập công ty “Integrated Electronics”, gọi tắt là Intel. Họ không đơn giản là chỉ lặp lại những việc đã làm ở Fairchild mà còn vạch ra một hướng chiến lược hoàn toàn mới, đó là chiến lược thu nhỏ các mạch tổ hợp. Năm 1969, chíp nhớ đầu tiên ra đời, mang nhãn hiệu Intel, và đến năm 1971 là sự ra đời của bộ vi xử lý đầu tiên. Thung lũng Santa Clara bắt đầu được gọi bằng cái tên “Thung lũng Silicon” của Mỹ kể từ một bài báo của Dan Hoefler đăng trên tờ Electronic News. Thời kỳ đầu, giống như Fairchild, Intel chủ yếu cung cấp các sản phẩm phục vụ lĩnh vực quân sự. So với đối thủ chính là hãng Texas Instruments, Intel đã thay đổi đến tận gốc rễ phương thức sản xuất, đặt ra những chuẩn mực cao hơn về mức độ tin cậy. Hai năm sau khi bộ vi điều khiển đầu tiên mang tên TMS1600 của Texas Instruments ra đời, Intel đã đuổi kịp Texas với sản phẩm Intel 8748.
Các bộ vi điều khiển đã tạo điều kiện về mặt kỹ thuật cho sự ra đời của các máy tính cá nhân (PC). Năm 1976, hai chàng tài tử trẻ tuổi là Steve Wozniak (26 tuổi) và Steve Jobs (21 tuổi) đã lắp ráp nên chiếc PC đầu tiên, gồm cả một bàn phím và một monitor, nó được gọi là Apple 1. Với sự giúp đỡ về vốn của Arthur Rock, các chàng trai trẻ đã thành lập được hãng Máy tính Apple và nhanh chóng tung ra thị trường sản phẩm PC Apple 2. Đến năm 1978, Apple đã thu được một lợi nhuận hơn 2 triệu USD.

Thời đại “dotcom”
Giai đoạn phát triển tiếp theo của Thung lũng Silicon bắt đầu vào năm 1993 với sự khai thác thương mại đối với Internet và sự ra đời của “world wide web.” Internet bắt đầu được truy cập rộng rãi là nhờ vào chương trình “Mosaic” được phát triển bởi chàng sinh viên 21 tuổi  Marc Andreesen ở Đại học Illinois. Nó vốn là một phần mềm miễn phí và đã có số người sử dụng lên đến 1 triệu, tính đến cuối năm 1993. Vì Đại học Illinois không mấy quan tâm đến Mosaic nên sau khi tốt nghiệp, Andreesen quyết định khăn gói đến Thung lũng Silicon tìm vận may. Ở đây anh đã gặp Jim Clark, nhà sáng lập giàu có của hãng Silicon Graphic. Đến tháng 4 năm 1994, họ đã cùng nhau thành lập hãng Mosaic Communications, ít lâu sau được đổi tên thành Netscape. Đến tháng 10 năm đó, Netscape đã tung ra thị trường sản phẩm trình duyệt (browser) đầu tiên của nó mang tên “Navigator,” phần mềm này thậm chí còn thành công hơn cả Mosaic. Ngược lại với các dự định ban đầu của Andreesen, Netscape ngay lập tức đòi những người dùng  phải trả tiền cho Navigator. Sự nổi lên của Netscape từ Thung lũng Silicon có vẻ như đã tạo ra một sự khiêu khích đối với Bill Gates ở Micosoft. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, Gates tung ra Window 95 có kèm theo trình duyệt “Internet Explorer” miễn phí. Nước cờ của Gates đã tỏ ra rất thành công khi gây ảnh hưởng đến con đường kiếm tiền của Netscape. Đến năm 1998. Netscape không còn lựa chọn nào khác là phải miễn phí hóa trình duyệt của mình. Netscape được tiếp quản bởi American Online (AOL) vào tháng 11 năm 1998. Tuy bị tuột khỏi tay thị trường trình duyệt nhưng nó vẫn là một đối thủ sừng sỏ trên sân chơi công nghệ Internet.
Trong thời gian các cao thủ Microsoft và Netscape đang đánh nhau, hai nghiên cứu sinh Đại học Stanford là  Jerry Chih-Yang và David Filo đã thiết lập nên cái gọi là “Jerry’s Fast Track to Mosaic,” sau này đổi tên thành “Yahoo.” Đến cuối năm 1994, Yahoo đã có 100.000 người truy cập mỗi ngày. Ban đầu, mục đích tạo ra Yahoo của Chih-Yang và Filo chỉ là để chơi cho vui, nhưng sau đó họ đã biến nó thành công việc làm ăn. Để kiếm tiền, họ đã quyết định vận hành nó theo kiểu một đài phát thanh tư nhân, cung cấp các dịch vụ và cho đăng quảng cáo. Cùng với sự tham gia của Mike Moritz và nguồn vốn đầu tư mạo hiểm Sequoia, Yahoo đã danh chính ngôn thuận trở thành một công ty trách nhiệm hữu hạn vào năm 1995. Trụ sở của nó cũng “bon chen” được vào khu vực Mountain View. Bí quyết thành công của Yahoo cũng giống như nhiều công ty khác trong Thung lũng Silicon, đó là họ đã có ý tưởng hay, đúng nơi và đúng lúc. Để chiếm lĩnh niềm tin của khách hàng, Yahoo đã sớm cung cấp cho cư dân mạng những địa chỉ Email miễn phí và thường xuyên duy trì liên kết với các website khác. Tính đến 1999, sau 4 năm thành lập, từ số vốn ban đầu 1 triệu USD, tài sản của Yahoo đã tăng lên đến 8 tỷ USD.
T.T. lược thuật


Lược sử Thung lũng Silicon cũng không thể không kể đến các anh tài hàng đầu thế giới về công nghệ phần mềm. Nổi bật lên trong số đó là Oracle, hãng phần mềm lớn thứ hai thế giới sau Microsoft. Xuất phát điểm với 2000 USD vào năm 1977, tính đến 1999, tài sản của hãng này đã lên tới 50 tỷ USD. Cùng với Oracle là nhiều cái tên quen thuộc khác có trụ sở làm việc ở Thung lũng Silicon như: Sun Micro Systems, 3D Graphics, và Silicon Graphics, tất cả đều phát triển xung quanh môi trường Đại học Stanford.


Đại học Stanford – một phần cơ thể của Thung lũng Silicon
Năm 1953, Frederick Terman đã phát động một chương trình hợp tác để tạo cơ hội cho các kỹ thuật viên làm việc tại các công ty trong thung lũng có thể tham dự các khóa học buổi tối ở Đại học Stanford để nâng cao kiến thức. Chương trình này đã thắt chặt thêm sự gắn bó giữa trường đại học và các công ty trong thung lũng. Nó cho phép các kỹ sư có thể học hỏi và cập nhật kịp thời những kiến thức mới, đồng thời các thành viên trong trường đại học cũng có dịp được tiếp xúc với thực tiễn công nghệ. Đồng thời, Terman cũng đã thành lập nên “công viên công nghiệp” đầu tiên của trường đại học, gọi là Công viên Nghiên cứu Stanford. Tính đến năm 2000, nơi này đã có khoảng 50 công ty với 23.000 nhân viên và 50 trung tâm nghiên cứu. Các viện nghiên cứu đóng vai trò như sợi dây liên kết giữa Đại học Stanford và nền công nghiệp của Thung lũng Silicon. Việc đào tạo nâng cao chuyên môn cho các cán bộ trẻ được vận hành thông qua mạng lưới xã hội được thiết lập giữa các công ty và các giáo sư đại học. Những giám đốc của các trung tâm nghiên cứu luôn là những người vừa có chuyên môn như các giảng viên đại học lại vừa có năng lực và kinh nghiệm trong hoạt động kinh doanh.


Ở Thung lũng Silicon, có vẻ như hãng nào càng ra đời muộn thì lại càng “béo nhanh”, thậm chí nhanh với tốc độ chóng mặt. Hewlett-Packard (ra đời năm 1939) phải mất 47 năm để đạt tới tài sản 1 tỷ USD. Trong khi đó, để “béo” được bằng mức ấy, Yahoo (thành lập năm 1995) chỉ mất 2 năm, còn Netzero (sinh năm 1998) chỉ mất 6 tháng! (Nhận xét ở đây đã bỏ qua số vốn ban đầu của các hãng, vì vốn ban đầu dù là vài trăm USD hay vài triệu USD thì vẫn coi là rất nhỏ so với 1 tỷ USD.)

Tài liệu tham khảo
- Kaplan D. A., The Silicon Boys and Their Valley of Dreams, New York (1999), N.Y. Harper&Collins.
- Hutchisons, “Technology and Economics in the Semiconductor Industry”, Scientific American, October 1967.
- Kenney, M. (Hrsg.), Understanding Silicon Valley. The Anatomy of an Entrepreneurial Region, Stanford University Press (2000).
-Lee, C. M., Miller, W.F., Hancock, M.G., Rowen, H.S. (Hrsg.)  The Silicon Valley Edge. A Habitat for Innovation and Entrepreneurship, Stanford University Press (2000).

Theo Tia Sang

Để lại phản hồi

Bài viết cũ hơn »
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.